NHỮNG PHỤ NỮ TRÍ TUỆ
»» Tiểu sử của MACHIG ONGJO

Tiểu sử của MACHIG ONGJO
TIỂU SỬ CỦA MACHIG ONGJO
(THẾ KỶ MƯỜI HAI)
Phần 1 Tiểu sử
Machig Ongjo sinh tại Tsang trong miền Yug. Trong gia đình của thân phụ bà có một trăm thế hệ Bồ Tát.
Thân phụ của bà gọi bà là Ongjo. Khi còn trẻ, bà có niềm tin và lòng sùng mộ to lớn. Bà thích cầu nguyện và cảm thấy buồn bã khi nhìn thấy nỗi đau khổ trong thế giới. Bà tinh tấn và chăm chú lắng nghe bất kỳ khi nào giáo lý được ban tặng. Bà nghe và hiểu tất cả mọi điều được nói ra. Vị Thầy của bà là Gyalwa Kyang Tsangpa, một đệ tử của Rechung Dorje Dragpa. Ngay khi gặp ngài, bà có niềm tin to lớn nơi ngài. Khi nhìn thấy niềm tin và lòng sùng mộ của bà, ngài nhận bà làm đệ tử và ban cho bà những giáo lý thì thầm-bên tai bí mật, là giáo lý được một guru ban cho người sẽ trì giữ dòng truyền thừa của ông. Trong trường hợp này dòng truyền được truyền từ Marpa qua Milarepa tới Rechungpa tới Kyung Tsangpa và sau đó tới Machig Ongjo. Bà trải phần lớn đời mình trong ẩn thất và tịnh hóa mọi nghiệp tiêu cực của mình.1 Sau đó sự thiền định của bà trở nên rõ ràng và bà đạt được nhiều thành tựu
Phần 2 Những thành tựu
BBà trở nên thành tựu (yon-then) trong: sự bố thí, trì giới, nhẫn nhục, khả năng giữ tâm bà trên con đường và không phí phạm thời giờ, khả năng giữ tâm an định, và sự chứng ngộ rằng không có thực thể nào có một bản tánh riêng hay bản ngã. Thành tựu sau cùng này được chứng ngộ nhờ việc sử dụng năng lực “Trí tuệ Sâu xa Vô Thuỷ.”2
Những thành tựu của Machig Ongjo
Bố thí (Dana)
Trước hết bà cúng dường mọi vật sở hữu cá nhân của bà cho guru. Khi ngài hỏi bà là có phải sau này bà không cần tới của cải này nữa thì bà trả lời: “Ngài là guru của con và hiện thân của Đức Phật. Con hoàn toàn tin tưởng nơi ngài. Tất cả những vật này đều vô thường và không có thực chất. Con không dính mắc vào chúng. Những giáo lý của Đức Phật thì quý báu hơn của cải này nhiều. Sẽ không có ý nghĩa gì khi thực hành giáo lý của Đức Phật mà đồng thời lại bám chấp vào vật chất. Giờ chết thì không xác định được. Tốt hơn là đừng trì hoãn mà hãy thực hành giáo lý ngay bây giờ.”
Trì Giới (Sila)
Trong ẩn thất Ga Gong bà đạt được thành tựu thứ hai. Ở đây bà là thủ lãnh của tất cả các tu sĩ và sư cô. Có lần tại một tiệc cúng dường bà nói với các đệ tử: “Ta từng tích tập công đức3 trong nhiều đời, và nhờ lý do này ta có thể gặp được guru vĩ đại của ta. Ta đã có được thân người quý báu và không phí phạm thân này. Ta đã dùng nó để thực hành Pháp. Ta đã giữ gìn các giới nguyện, vì thế cho dù có chết ngay bây giờ ta cũng sẽ không hối tiếc”
Nhẫn nhục (kShanti)
Ở Ngo.pa Na Shugpa bà đề cập tới sự nhẫn nhục. Bà nói: “Pháp tánh (Dharmata) thì thanh tịnh như bầu trời. Tâm thức tự nó thì quang minh và không ô nhiễm. Gốc rễ của bản ngã không nối kết với trạng thái tự nhiên. Đây là sự thấu suốt kiên cố của ta về những giáo huấn cốt tủy. Đây là viên ngọc của dòng thầm thì-bên tai.4 Ta đã thoát khỏi mọi nghi ngờ nhờ sự truyền dạy của những giáo lý này. Ta không lãng phí thời giờ và đã thấu hiểu mọi sự.”
Tinh tấn (Virya)
Khi ở Bul Ngag bà thực hành bốn thời thiền định một ngày về thực hành quán tưởng, và thân, ngữ, tâm thế tục của bà trở thành thân, ngữ, tâm được chuyển hóa và tịnh hóa của Bổn Tôn được quán tưởng. Bà nói về thời kỳ này: “Khi ta thực hành thiền định với prana và nadis,5 tâm ta không lang thang. Ta đã chứng ngộ Đại Lạc của trạng thái tự nhiên bất nhiễm. Hiểu rõ điều này, tâm ta lưu chuyển như nước chảy.”
Thiền định
Khi bà ở trong ẩn thất tại Dzarana, bà nói: “Hiểu rõ bản chất của bổn tâm ta, bất kỳ tư tưởng lan man nào xuất hiện ta không xao lãng và vẫn an trụ trong một trạng thái của sự tỉnh giác.”
Trí tuệ Sâu xa (Bát Nhã)
Khi bà ở Kyung Tsang, bà nói: “Tác nhân phân biệt của mọi hiện tượng là tánh Không. Sự giải thoát tự nhiên là Đại Lạc tự thân. Nó là Pháp Thân, vô thủy, siêu vượt danh xưng và ngôn từ. Ta thấu suốt điều này chỉ nhờ vào lòng nhân từ của guru. Trạng thái tự nhiên, tính tự sinh, tự nó xuất hiện. Đây là sự hỉ lạc của việc thấu biết bản thân ta thì không tách biệt.”
Đây là sự trình bày ngắn gọn về những thành tựu và chứng ngộ của Machig Ongjo.
